Mục 2
CÁCH THỨC KIỂM TRA
Điều 8. Kiểm tra thông qua báo cáo
1. Kiểm tra thông qua báo cáo được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra.
2. Nội dung báo cáo và thời hạn gửi báo cáo phải bảo đảm đúng yêu cầu của người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra.
3. Người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra xem xét báo cáo, xử lý thông tin, yêu cầu thẩm định thông tin và có kết luận kiểm tra.
4. Thời gian cho cơ quan được kiểm tra chuẩn bị báo cáo ít nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra. Trong trường hợp đặc biệt, thời gian cho cơ quan được kiểm tra chuẩn bị báo cáo do người có thẩm quyền kiểm tra quyết định.
Điều 9. Kiểm tra thông qua sơ kết, tổng kết
1. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch do người có thẩm quyền kiểm tra quyết định hoặc được xác định ngay trong chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.
Việc kiểm tra thông qua sơ kết, tổng kết phải tuân thủ theo nguyên tắc dưới đây:
a) Sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phải bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí;
b) Sơ kết thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được tiến hành ít nhất là một năm kể từ khi chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được ban hành hoặc phê duyệt;
c) Tổng kết thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được tiến hành ít nhất là hai năm kể từ khi có hiệu lực thi hành hoặc khi kết thúc một giai đoạn thực hiện để chuyển sang giai đoạn khác hoặc khi đã hoàn thành việc thực hiện.
Việc tổng kết để kiểm tra chỉ áp dụng đối với chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quan trọng, có quy mô lớn.
2. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có thể tiến hành thông qua hội nghị hoặc báo cáo sơ kết, tổng kết.
3. Sơ kết, tổng kết bao gồm các nội dung về thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, nhưng tập trung vào các vấn đề sau đây:
a) Các mục tiêu, nhiệm vụ đã hoàn thành;
b) Các mục tiêu, nhiệm vụ chưa hoàn thành, lý do;
c) Kết quả và tiến độ thực hiện;
d) Sai phạm, yếu kém trong quá trình thực hiện;
đ) Trách nhiệm thực hiện của cơ quan chủ trì và các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện;
e) Sự không phù hợp của chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và những kiến nghị sửa đổi, bổ sung.
Điều 10. Kiểm tra thông qua họp, giao ban
Kiểm tra thông qua họp, giao ban do người có thẩm quyền kiểm tra quyết định.
Tại cuộc họp, hội nghị giao ban, cơ quan, đơn vị được kiểm tra báo cáo tình hình việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch theo yêu cầu của người có thẩm quyền kiểm tra.
Điều 11. Kiểm tra thông qua làm việc với các cơ quan được kiểm tra
1. Trường hợp cần làm việc trực tiếp với cơ quan được kiểm tra, người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra, mời đại diện cơ quan được kiểm tra làm việc tại trụ sở cơ quan mình hoặc cử đại diện của cơ quan mình đến làm việc tại cơ quan được kiểm tra.
Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng thông qua làm việc trực tiếp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp được Thủ tướng giao, Văn phòng chính phủ và các cơ quan chức năng được quyền làm việc trực tiếp với người đứng đầu cơ quan được kiểm tra.
Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông qua làm việc trực tiếp với người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. Trường hợp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan chức năng được quyền làm việc trực tiếp với người đứng đầu các cơ quan được kiểm tra.
2. Người có thẩm quyền kiểm tra và cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra có quyền tham khảo ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề chuyên môn liên quan đến nội dung kiểm tra, nhưng phải chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra của mình.
Điều 12. Tổ chức đoàn kiểm tra
1. Thành lập đoàn kiểm tra:
a) Kiểm tra thông qua thành lập đoàn kiểm tra được ghi vào kế hoạch kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất. Đoàn kiểm tra được thành lập trên cơ sở quyết định của người có thẩm quyền kiểm tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra;
b) Trường hợp kiểm tra đột xuất, đoàn kiểm tra phải có trách nhiệm thông báo thời gian, nội dung kiểm tra cho cơ quan được kiểm tra chậm nhất là 01 ngày làm việc trước ngày kiểm tra;
c) Đối với đoàn kiểm tra do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng chủ trì, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm chuẩn bị nội dung; tổng hợp và thông báo ý kiến kết luận kiểm tra của Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng.
2. Hoạt động của đoàn kiểm tra:
a) Đoàn kiểm tra hoạt động theo kế hoạch do cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Đoàn kiểm tra có quyền làm việc trực tiếp với cơ quan được kiểm tra; yêu cầu cơ quan được kiểm tra báo cáo và cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm tra; đề nghị cơ quan nhà nước có liên quan hoặc chuyên gia đánh giá về các báo cáo, thông tin, tài liệu do cơ quan được kiểm tra cung cấp;
c) Thời gian hoạt động của đoàn kiểm tra do người ra quyết định thành lập đoàn kiểm tra quyết định.





